Luật số 81/2025/QH15 Luật sửa đổi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
08/08/2025 09:00
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, Quốc Hội chính thức ban hành Luật số 81/2025/QH15 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ Chức Tòa Án Nhân Dân (Luật sửa đổi Luật TCTAND), có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025.
Theo đó, Luật sửa đổi Luật TCTAND quy định việc tái cơ cấu hệ thống Tòa Án Nhân Dân nhằm tiếp tục tinh gọn, củng cố tổ chức bộ máy Tòa án theo hướng hiệu lực, hiệu quả hơn. Việc sửa đổi này phù hợp với nhiệm vụ đang triển khai về sắp xếp, tinh gọn hệ thống chính trị, cũng như yêu cầu cải cách hành chính và tư pháp ở Việt Nam. Cập Nhật Pháp Lý này cung cấp tổng quan về các sửa đổi quan trọng trong Luật sửa đổi Luật TCTAND.
1. Mô hình tổ chức của Tòa Án Nhân Dân và thẩm quyền thành lập, giải thể Tòa Án Nhân Dân
1.1. Mô hình tổ chức của Tòa Án Nhân Dân
Để phù hợp với cuộc cải cách toàn diện đang diễn ra trong cơ cấu hành chính của Việt Nam, đặc biệt là việc tổ chức lại chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) và xóa bỏ cấp huyện, Luật sửa đổi Luật TCTAND đã giới thiệu mô hình Tòa án nhân dân ba cấp. Cấu trúc mới này thay thế mô hình bốn cấp trước đây và bao gồm:
(i) Tòa Án Nhân Dân Tối Cao;
(ii) Tòa Án Nhân Dân Tỉnh và Thành Phố Trực Thuộc Trung Ương (Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh); và
(iii) Tòa Án Nhân Dân Khu Vực.
Bên cạnh các cấp tòa nêu trên, sẽ có Tòa Chuyên Biệt tại Trung Tâm Tài Chính Quốc Tế (Tòa Chuyên Biệt). Ngày 27 tháng 6 năm 2025, Quốc Hội đã chính thức thông qua Nghị Quyết số 222/2025/QH15 về Trung Tâm Tài Chính Quốc Tế tại Việt Nam (Nghị Quyết TTTCQT), có hiệu lực từ ngày 1 tháng 9 năm 2025. Theo Nghị Quyết TTTCQT, Trung Tâm Tài Chính Quốc Tế là khu vực có ranh giới địa lý xác định do Chính Phủ thành lập, tập trung hệ sinh thái đa dạng các dịch vụ tài chính và dịch vụ hỗ trợ, được áp dụng cơ chế, chính sách theo quy định. Trung Tâm Tài Chính Quốc Tế sẽ được thành lập tại Thành Phố Hồ Chí Minh và Thành Phố Đà Nẵng, đồng nghĩa với việc sẽ có các Tòa Chuyên Biệt được thiết lập tại các khu vực này.
Nhìn chung, việc tái cơ cấu này nhằm thực thi chủ trương của Đảng về việc xóa bỏ các cấp trung gian và bãi bỏ Tòa Án Cấp Huyện, qua đó thiết lập một khuôn khổ pháp lý toàn diện cho việc tổ chức và vận hành hệ thống Tòa án theo mô hình mới. Cải cách này được thiết kế nhằm thúc đẩy sự tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động của Tòa án, đáp ứng tốt hơn yêu cầu cải cách tư pháp và phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
1.2. Thẩm quyền thành lập, giải thể Tòa Án Nhân Dân
Luật sửa đổi Luật TCTAND giữ nguyên phương thức đã được quy định trong Luật TCTAND 2024, theo đó Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội (UBTVQH) được giao trách nhiệm quyết định việc thành lập và giải thể phần lớn các Tòa Án Nhân Dân ở tất cả các cấp, cũng như xác định thẩm quyền lãnh thổ tương ứng của các Tòa án đó. Cụ thể, UBTVQH có thẩm quyền:
(i) Đối với Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, phê chuẩn các đề xuất về việc thành lập, tổ chức lại hoặc giải thể một số đơn vị, cơ quan nội bộ (bao gồm các Tòa Phúc Thẩm Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, các vụ và đơn vị tương đương, cơ quan báo chí), theo đề nghị của Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao (Chánh Án TANDTC);
(ii) Đối với Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh, quyết định việc thành lập, giải thể và xác định thẩm quyền lãnh thổ của một số Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh có nhiệm vụ giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài và đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc, theo đề nghị của Chánh Án TANDTC;
(iii) Đối với Tòa Án Nhân Dân Khu Vực, quyết định việc thành lập, giải thể và xác định thẩm quyền lãnh thổ chung của các Tòa án này, theo đề nghị của Chánh Án TANDTC;
(iv) Đối với các Tòa án quân sự trung ương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực: quyết định việc thành lập, giải thể và xác định thẩm quyền lãnh thổ, theo đề nghị của Chánh Án TANDTC sau khi có sự thống nhất với Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng; và
(v) Đối với các Tòa Chuyên Biệt, quyết định việc thành lập, giải thể và xác định thẩm quyền lãnh thổ, theo đề nghị của Chánh Án TANDTC.
Trên cơ sở các quy định nêu trên, ngày 27 tháng 6 năm 2025, UBTVQH đã ban hành Nghị Quyết số 81/2025/UBTVQH15, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025 (Nghị Quyết 81), về việc thành lập Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh và Tòa Án Nhân Dân Khu Vực, cũng như xác định thẩm quyền lãnh thổ tương ứng của các Tòa án này. Vui lòng tham khảo các mục 2.2 và 2.3 của Cập Nhật Pháp Lý này để biết thêm thông tin chi tiết.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tòa Án Nhân Dân
Luật sửa đổi Luật TCTAND bổ sung các quy định liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tòa Án Nhân Dân, phù hợp với mô hình tổ chức Tòa án ba cấp mới.
2.1. Tòa Án Nhân Dân Tối Cao
(i) Khôi phục thẩm quyền phúc thẩm của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao
Với việc bãi bỏ các Tòa Án Nhân Dân Cấp Cao, Luật sửa đổi Luật TCTAND khôi phục lại các Tòa Phúc Thẩm của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao (Tòa Phúc Thẩm TANDTC) như một bộ phận trong cơ cấu tổ chức của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao. Theo đó, Tòa Phúc Thẩm TANDTC có thẩm quyền phúc thẩm đối với các vụ án hình sự mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh chưa có hiệu lực pháp luật và đã bị kháng cáo hoặc kháng nghị.
Sự thay đổi này làm rõ nhiệm vụ và quyền hạn của các Tòa Phúc Thẩm TANDTC, đồng thời phản ánh việc khôi phục cơ cấu tổ chức từng được quy định trong Luật Tổ Chức Tòa Án Nhân Dân 2002.
Cụ thể, các Tòa Phúc Thẩm TANDTC có các quyền và nhiệm vụ sau:
(a) Xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh chưa có hiệu lực pháp luật và bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo quy định của pháp luật;
(b) Kiến nghị Chánh Án TANDTC xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa Phúc Thẩm TANDTC hoặc Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh, theo quy định của pháp luật;
(c) Rà soát thực tiễn xét xử và đề xuất án lệ;
(d) Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn sau:
- Giải quyết và xét xử các hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;
- Quyết định các vấn đề liên quan đến quyền con người, quyền và nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật;
- Phát hiện và kiến nghị về tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình xét xử, giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật; và
- Giải thích pháp luật phục vụ việc áp dụng trong xét xử và giải quyết vụ việc;
(e) Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
(ii) Thay đổi số lượng thành viên của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao
Luật sửa đổi Luật TCTAND mở rộng Hội Đồng Thẩm Phán của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, tăng số lượng thành viên từ 13 – 17 lên 23 – 27. Thẩm phán. Thành phần của Hội Đồng Thẩm Phán vẫn được giữ nguyên.
(iii) Bổ sung nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao
Theo quy định của Luật sửa đổi Luật TCTAND, nhiệm vụ và quyền hạn của các Thẩm Phán làm việc tại Tòa Án Nhân Dân Tối Cao được bổ sung như sau, bên cạnh các trách nhiệm hiện hành:
(a) Xét xử và giải quyết các vụ việc tại các Tòa Phúc Thẩm TANDTC; và xét xử, giải quyết các vụ việc tại các Tòa án khác theo chỉ định của Chánh Án TANDTC; và
(b) Trả lời đơn đề nghị, văn bản yêu cầu và kiến nghị liên quan đến thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo chỉ định của Chánh Án TANDTC.
(iv) Thay đổi tiêu chuẩn và điều kiện bổ nhiệm Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao
Bên cạnh các tiêu chuẩn bổ nhiệm Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao đã được quy định tại Luật TCTAND năm 2024, Luật sửa đổi Luật TCTAND bổ sung các điều kiện cụ thể đối với trường hợp ứng viên đặc biệt.
Theo đó, các ứng viên này phải:
(a) có ít nhất năm (5) năm kinh nghiệm làm Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân; hoặc
(b) hiện đang giữ chức vụ Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân; hoặc
(c) có ít nhất năm (5) năm kinh nghiệm giữ chức vụ Vụ Trưởng tại Tòa Án Nhân Dân Tối Cao,
với điều kiện số lượng Thẩm Phán được bổ nhiệm theo diện đặc biệt này không vượt quá 10% tổng số Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao và được cấp có thẩm quyền chấp thuận.
Ngoài ra, số lượng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao được bổ nhiệm ngoài hệ thống Tòa án cũng được tăng từ hai (2) lên ba (3) người.
Với việc bãi bỏ các Tòa Án Nhân Dân Cấp Cao, toàn bộ khối lượng công việc của các Tòa án này sẽ được chuyển giao cho Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, làm gia tăng đáng kể áp lực cho cấp tòa này. Do đó, việc tăng số lượng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao là điều kiện thiết yếu để bảo đảm năng lực xử lý công việc cả về chất lượng lẫn tiến độ.[1]
2.2. Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh
(i) Thành lập các Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh mới
Theo Nghị quyết 81, hệ thống Tòa án sẽ bao gồm ba mươi tư (34) Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh. Trong đó có mười một (11) Tòa án hiện hữu và hai mươi ba (23) Tòa án mới được thành lập thông qua việc sáp nhập, phù hợp với việc sắp xếp lại đơn vị hành chính ở cấp tỉnh.
(ii) Thay đổi về thẩm quyền và nhiệm vụ của Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh
(a) Xét xử sơ thẩm
Theo quy định của Luật sửa đổi Luật TCTAND, Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh chỉ xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự. Đây là một sự thay đổi đáng kể so với Luật TCTAND năm 2024, theo đó Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh được giao thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với nhiều loại vụ việc khác nhau. Thẩm quyền đối với các loại vụ việc khác sẽ được chuyển giao cho các Tòa Chuyên Trách Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh.
(b) Tăng cường thẩm quyền đối với thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm
Luật sửa đổi Luật TCTAND bổ sung một quy định hoàn toàn mới, theo đó Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh và Ủy Ban Thẩm Phán của các Tòa án này có thẩm quyền thực hiện thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa Án Nhân Dân Khu Vực, bị kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Luật sửa đổi Luật TCTAND cũng mở rộng thẩm quyền của Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh trong việc kiến nghị Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao xem xét và kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa Phúc Thẩm TANDTC, ngoài việc kiến nghị đối với chính bản án, quyết định của mình.
(iii) Thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh đối với các vấn đề liên quan đến phán quyết trọng tài
Theo Nghị quyết 81, một số Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh được chỉ định có thẩm quyền lãnh thổ để giải quyết các yêu cầu hủy phán quyết trọng tài và đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc. Cụ thể bao gồm:
(a) Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Hà Nội;[2]
(b) Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Đà Nẵng;[3] và
(c) Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh.[4]
(iv) Bổ sung thẩm quyền và nhiệm vụ của Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh (Chánh Án TANDCT)
Bên cạnh các thẩm quyền và nhiệm vụ đã được quy định tại Luật TCTAND 2024, Luật sửa đổi Luật TCTAND giao thêm hai (2) thẩm quyền mới cho Chánh Án TANDCT như sau:
(a) Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa Án Nhân Dân Khu Vực; và
(b) Trả lời các chất vấn và kiến nghị của đại biểu Hội Đồng Nhân Dân Cấp Tỉnh.
2.3. Tòa Án Nhân Dân Khu Vực
Theo quy định của Luật sửa đổi Luật TCTAND, Tòa Án Nhân Dân Khu Vực sẽ thay thế cho các Tòa án hiện nay ở cấp huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Theo đó, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Tòa án này đã được điều chỉnh như sau:
(i) Bổ sung thẩm quyền kiến nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
Luật sửa đổi Luật TCTAND bổ sung quy định mới cho phép Tòa Án Nhân Dân Khu Vực có quyền kiến nghị Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao hoặc Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh xem xét thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa Án Nhân Dân Khu Vực hoặc Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh, theo quy định của pháp luật.
(ii) Thành lập các Tòa Chuyên Trách mới tại Tòa Án Nhân Dân Khu Vực
Bên cạnh các Tòa Chuyên Trách đã được quy định trong Luật TCTAND 2024 (bao gồm: Tòa Hình Sự, Tòa Dân Sự, Tòa Gia Đình và Người Chưa Thành Niên, và Tòa Hành Chính), Luật sửa đổi Luật TCTAND bổ sung ba (3) Tòa Chuyên Trách mới thuộc Tòa Án Nhân Dân Khu Vực, bao gồm: Tòa Kinh Tế, Tòa Phá Sản và Tòa Sở Hữu Trí Tuệ. Trong đó, Tòa Kinh Tế có thể được thành lập tại hầu hết các khu vực, tùy thuộc vào nhu cầu giải quyết tranh chấp thực tế của từng Tòa Án Nhân Dân Khu Vực; còn Tòa Phá Sản và Tòa Sở Hữu Trí Tuệ sẽ chỉ được thành lập tại một số Tòa Án Nhân Dân Khu Vực nhất định. Tham khảo phần phân tích bên dưới để biết thêm thông tin chi tiết.
Theo Nghị Quyết 81, hệ thống Tòa án hiện có 355 Tòa Án Nhân Dân Khu Vực, với thẩm quyền lãnh thổ được xác định tương ứng với địa giới hành chính của các đơn vị cấp xã, như được nêu chi tiết trong Phụ Lục của Nghị Quyết 81.
Ngoài các nội dung nêu trên, thẩm quyền lãnh thổ cụ thể của các Tòa án giải quyết các vụ việc phá sản và các vụ việc liên quan đến sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ được quy định như sau:
(a) Tòa giải quyết vụ việc phá sản:
- Tòa Án Nhân Dân Khu Vực 2 - Hà Nội;[5]
- Tòa Án Nhân Dân Khu Vực 1 - Đà Nẵng;[6] và
- Tòa Án Nhân Dân Khu Vực 1 - Thành Phố Hồ Chí Minh.[7]
(b) Tòa giải quyết vụ việc về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ:
- Tòa Án Nhân Dân Khu Vực 2 - Hà Nội;[8] và
- Tòa Án Nhân Dân Khu Vực 1 - Thành Phố Hồ Chí Minh.[9]
2.4. Tòa Chuyên Biệt
Luật sửa đổi Luật TCTAND quy định rằng nhiệm vụ, quyền hạn và thủ tục giải quyết tranh chấp; ngôn ngữ và chữ viết được sử dụng trong tố tụng; pháp luật áp dụng tại các Tòa Chuyên Biệt; thẩm phán tham gia giải quyết tranh chấp và các vấn đề khác liên quan đến tổ chức và hoạt động của Tòa Chuyên Biệt sẽ do Quốc Hội quy định.
Tính đến thời điểm hiện tại, một số nội dung đã được đề cập trong Nghị Quyết TTTCQT, bao gồm:
(i) Cơ chế giải quyết tranh chấp tại Trung Tâm Tài Chính Quốc Tế sẽ bao gồm Tòa Chuyên Biệt và Trung Tâm Trọng Tài Quốc Tế của Trung Tâm Tài Chính Quốc Tế. Cần lưu ý rằng thẩm quyền của Trung Tâm Trọng Tài Quốc Tế chỉ áp dụng đối với các tranh chấp do các bên thỏa thuận, trừ các tranh chấp có liên quan đến việc thực hiện quyền lực của Nhà nước.
(ii) Về pháp luật áp dụng:
- Trường hợp có sự khác biệt giữa Nghị Quyết TTTCQT và các luật khác hoặc nghị quyết khác của Quốc Hội, quy định của Nghị Quyết TTTCQT sẽ được ưu tiên áp dụng;
- Nếu các luật hoặc nghị quyết khác của Quốc Hội được ban hành sau thời điểm Nghị Quyết TTTCQT có hiệu lực có quy định chính sách thuận lợi hơn cho thành viên của Trung Tâm Trọng Tài Quốc Tế, thì các quy định đó sẽ được ưu tiên áp dụng;
- Trường hợp có sự khác biệt giữa Nghị Quyết TTTCQT và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thì điều ước quốc tế sẽ được áp dụng.
(iii) Thủ tục giải quyết tranh chấp có thể được thực hiện bằng tiếng Anh hoặc bằng tiếng Anh kèm theo bản dịch tiếng Việt.
Các nội dung khác, như nhiệm vụ, quyền hạn và thủ tục giải quyết tranh chấp, cũng như Thẩm Phán tham gia giải quyết tranh chấp và các vấn đề liên quan khác, dự kiến sẽ tiếp tục được Quốc Hội quy định chi tiết trong thời gian tới.
3. Điều chỉnh thẩm quyền của Tòa án trong các luật liên quan
Luật sửa đổi Luật TCTAND đưa ra một cải cách toàn diện đối với khung pháp lý về thẩm quyền của hệ thống Tòa Án Nhân Dân, đặc biệt nhấn mạnh vào việc làm rõ phân công trách nhiệm giữa Tòa Án Nhân Dân Khu Vực và Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh, cũng như mô hình Tòa án ba cấp mới, trong tổng số mười ba (13) luật chuyên ngành. Các sửa đổi này không chỉ nhằm phù hợp với hệ thống tư pháp được tái cơ cấu, mà còn hướng tới tối ưu hóa hiệu quả của quá trình tố tụng pháp lý.
Luật sửa đổi Luật TCTAND sửa đổi một số quy định trong các luật chuyên ngành liên quan như sau:
(i) Luật Trọng Tài Thương Mại
Luật sửa đổi Luật TCTAND quy định thẩm quyền của Tòa Án Nhân Dân Khu Vực đối với các vụ việc liên quan đến trọng tài, thay thế quy định trước đây vốn trao thẩm quyền duy nhất cho Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh.
Theo đó, Luật sửa đổi Luật TCTAND quy định rằng phần lớn các vụ việc liên quan đến trọng tài sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa Án Nhân Dân Khu Vực, trong khi Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh chỉ giải quyết các vụ việc liên quan đến yêu cầu hủy phán quyết trọng tài và đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc, như đã đề cập tại các mục 1.2 và 2.2 của Cập Nhật Pháp Lý này.
(ii) Luật Hàng Không Dân Dụng
Luật sửa đổi Luật TCTAND trao thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu bay trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 44 của Luật Hàng Không Dân Dụng cho Tòa Án Nhân Dân Khu Vực, thay thế cho Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh.
(iii) Luật Bảo Vệ Bí Mật Nhà Nước
Luật sửa đổi Luật TCTAND sửa đổi các quy định liên quan trong Luật Bảo Vệ Bí Mật Nhà Nước để phản ánh việc bãi bỏ các Tòa Án Nhân Dân Cấp Cao.
(iv) Luật Trách Nhiệm Bồi Thường Của Nhà Nước
Luật sửa đổi Luật TCTAND quy định thay thế Tòa Án Nhân Dân Cấp Cao bằng Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh với tư cách là cơ quan có thẩm quyền trực tiếp giải quyết yêu cầu bồi thường trong các trường hợp bản án, quyết định bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Ngoài ra, Luật sửa đổi Luật TCTAND sửa đổi khoản 1 Điều 53 của Luật Trách Nhiệm Bồi Thường Của Nhà Nước bằng cách thay cụm từ “Tòa Án Cấp Huyện” bằng “Tòa Án Nhân Dân Khu Vực”, nhằm phản ánh việc bãi bỏ Tòa Án Cấp Huyện.
(v) Bộ Luật Hàng Hải Việt Nam
Luật sửa đổi Luật TCTAND chuyển thẩm quyền bắt giữ tàu biển từ Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh sang Tòa Án Nhân Dân Khu Vực. Ngoài ra, cơ chế giải quyết tranh chấp về thẩm quyền liên quan đến việc bắt giữ tàu biển cũng được phân định rõ hơn, với vai trò mới của Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh trong việc giải quyết tranh chấp giữa các Tòa Án Nhân Dân Khu Vực trong cùng một địa phương.
(vi) Luật Khiếu Nại
Luật sửa đổi Luật TCTAND điều chỉnh Luật Khiếu Nại bằng cách chỉ định cụ thể Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh là cơ quan có trách nhiệm tại địa phương. Những sửa đổi này phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp và tái cơ cấu hệ thống các cấp Tòa án, từ đó tăng cường tính minh bạch và rõ ràng trong việc phân công nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước tại địa phương.
(vii) Luật Thi Hành Án Dân Sự
Luật sửa đổi Luật TCTAND sửa đổi các quy định liên quan trong Luật Thi Hành Án Dân Sự để phản ánh việc bãi bỏ Tòa Án Cấp Huyện, bao gồm việc chuyển giao các nhiệm vụ cốt lõi từ các cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện sang các cơ quan thi hành án cấp tỉnh, phù hợp với mô hình Tòa án ba cấp mới.
(viii) Luật Tương Trợ Tư Pháp
Luật sửa đổi Luật TCTAND thực hiện cơ cấu lại đáng kể trách nhiệm theo quy định của Luật Tương Trợ Tư Pháp, bằng cách phân giao một số nhiệm vụ cho các Tòa Án Nhân Dân Khu Vực mới được thành lập, đồng thời xác định rõ vai trò giám sát của Tòa Án Nhân Dân Cấp Tỉnh.
(ix) Luật Tố Cáo, Luật Trẻ Em, Luật Phòng, Chống Tham Nhũng, Luật Phòng, Chống Ma Túy và Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
Luật sửa đổi Luật TCTAND quy định việc sửa đổi các điều khoản liên quan trong các luật này để phản ánh việc bãi bỏ Tòa Án Cấp Huyện.
4. Các sửa đổi mang tính kỹ thuật
Bên cạnh những thay đổi quan trọng liên quan đến thẩm quyền và thủ tục, Luật sửa đổi Luật TCTAND cũng tập trung vào việc chuẩn hóa và đơn giản hóa ngôn ngữ pháp lý thông qua các sửa đổi kỹ thuật. Đây là bước cần thiết nhằm nâng cao tính rõ ràng và khả năng tiếp cận của các văn bản pháp luật, đồng thời bảo đảm tính nhất quán trong việc sử dụng thuật ngữ cho các cấp Tòa Án Nhân Dân.
Những thay đổi kỹ thuật chủ yếu liên quan đến việc sửa đổi các thuật ngữ pháp lý có liên quan và loại bỏ các quy định gắn với mô hình Tòa án cũ, nhằm phản ánh mô hình Tòa án ba cấp mới, qua đó góp phần chuẩn hóa hệ thống văn bản pháp luật và tạo thuận lợi cho việc áp dụng trong thực tiễn.
Luật sửa đổi Luật TCTAND đã tái cấu trúc hệ thống Tòa Án Nhân Dân phù hợp với việc tổ chức lại hành chính và hiện đại hóa thể chế. Đây là một phần quan trọng trong chương trình cải cách tư pháp của Việt Nam, với mục tiêu xây dựng một nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại và công bằng. Các cải cách này được kỳ vọng sẽ tăng cường vai trò của Tòa án trong việc thực thi quyền tư pháp.
Tải bản tin về máy tại đây: Cập Nhật Pháp Lý - Luật số 81/2025/QH15 Luật sửa đổi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
[1] Theo số liệu thống kê, trong giai đoạn trung bình ba năm từ 2022 đến 2024, Tòa Án Nhân Dân Tối Cao xử lý khoảng 2.800 trên tổng số 3.400 đơn đề nghị giám đốc thẩm và tái thẩm mỗi năm thuộc thẩm quyền của mình, và xét xử khoảng 200 vụ án mỗi năm theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm. Ba Tòa Án Nhân Dân Cấp Cao, lần lượt, xử lý khoảng 6.500 trên tổng số 7.900 đơn đề nghị tương tự, và xét xử khoảng 800 vụ án mỗi năm theo các thủ tục này.
Theo đó, khi đảm nhận một phần chức năng giám đốc thẩm và tái thẩm hiện do các Tòa Án Nhân Dân Cấp Cao thực hiện, dự kiến Tòa Án Nhân Dân Tối Cao sẽ phải xử lý khoảng 11.000 đơn đề nghị giám đốc thẩm và tái thẩm mỗi năm, và xét xử khoảng 1.000 vụ án hằng năm theo các thủ tục này.
[2] Tòa Án Nhân Dân Khu Vực 2 - Hà Nội có phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đối với mười tám (18) tỉnh, thành phố, bao gồm: Thành Phố Hà Nội, Thành Phố Hải Phòng; các tỉnh: Bắc Ninh, Cao Bằng, Điện Biên, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Nghệ An, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Ninh, Sơn La, Thái Nguyên, Thanh Hóa và Tuyên Quang.
[3] Tòa Án Nhân Dân Khu Vực 1 - Đà Nẵng có phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đối với bảy (7) tỉnh, thành phố, bao gồm: Thành Phố Đà Nẵng, Thành Phố Huế; các tỉnh: Đắk Lắk, Gia Lai, Khánh Hòa, Quảng Ngãi và Quảng Trị.
[4] Tòa Án Nhân Dân Khu Vực 1 - Thành Phố Hồ Chí Minh có phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đối với chín (9) tỉnh, thành phố, bao gồm: Thành Phố Cần Thơ, Thành Phố Hồ Chí Minh; các tỉnh: An Giang, Cà Mau, Đồng Nai, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Tây Ninh và Vĩnh Long.
[5] Tòa Án Nhân Dân Khu Vực 2 - Hà Nội có phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đối với mười tám (18) tỉnh, thành phố, bao gồm: Thành Phố Hà Nội, Thành Phố Hải Phòng; các tỉnh: Bắc Ninh, Cao Bằng, Điện Biên, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Nghệ An, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Ninh, Sơn La, Thái Nguyên, Thanh Hóa và Tuyên Quang.
[6] Tòa Án Nhân Dân Khu Vực 1 - Đà Nẵng có phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đối với bảy (7) tỉnh, thành phố, bao gồm: Thành Phố Đà Nẵng, Thành Phố Huế; các tỉnh: Đắk Lắk, Gia Lai, Khánh Hòa, Quảng Ngãi và Quảng Trị.
[7] Tòa Án Nhân Dân Khu Vực 1 - Thành Phố Hồ Chí Minh có phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đối với chín (9) tỉnh, thành phố, bao gồm: Thành Phố Cần Thơ, Thành Phố Hồ Chí Minh; các tỉnh: An Giang, Cà Mau, Đồng Nai, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Tây Ninh và Vĩnh Long.
[8] Tòa Án Nhân Dân Khu Vực 2 - Hà Nội có phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đối với hai mươi (20) tỉnh, thành phố, bao gồm: Thành Phố Hà Nội, Thành Phố Hải Phòng, Thành Phố Huế; các tỉnh: Bắc Ninh, Cao Bằng, Điện Biên, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Nghệ An, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sơn La, Thái Nguyên, Thanh Hóa và Tuyên Quang.
[9] Tòa Án Nhân Dân Khu Vực 1 - Thành Phố Hồ Chí Minh có phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đối với mười bốn (14) tỉnh, thành phố, bao gồm: Thành Phố Cần Thơ, Thành Phố Đà Nẵng, Thành Phố Hồ Chí Minh; các tỉnh: An Giang, Cà Mau, Đắk Lắk, Đồng Nai, Đồng Tháp, Gia Lai, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Quảng Ngãi, Tây Ninh và Vĩnh Long.
Bài viết này chỉ cung cấp một bản tóm tắt về chủ đề được đề cập, mà không có bất kỳ nghĩa vụ nào do Công ty Luật Frasers chịu trách nhiệm.
Bản tóm tắt không nhằm mục đích cũng như không nên dựa vào nó để thay thế cho lời khuyên pháp lý.