Quy định mới về hóa đơn điện tử và chứng từ điện tử theo Nghị định số 254/2026/NĐ-CP và Thông tư số 91/2026/TT-BTC

30/09/2026 12:00

Vào ngày 30 tháng 6 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 254/2026/NĐ-CP (Nghị định 254), quy định chi tiết một số điều về hóa đơn điện tử và chứng từ điện tử theo Luật Quản lý Thuế và thay thế Nghị định số 123/2020/NĐ-CP, đã được sửa đổi (Nghị định 123). Cùng ngày, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 91/2026/TT-BTC (Thông tư 91), thay thế Thông tư số 32/2025/TT-BTC. Cả hai văn bản này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2026 và đưa ra một số sửa đổi đáng chú ý đối với việc quản lý hóa đơn điện tử và chứng từ điện tử tại Việt Nam.

Bản cập nhật pháp lý này tập trung vào những thay đổi quan trọng được đưa ra theo Nghị định 254 và Thông tư 91. 

1. Sửa đổi định nghĩa về việc sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ 

Nghị định 254 thu hẹp phạm vi khái niệm "sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ" bằng cách loại bỏ quy định trước đây dẫn chiếu đến hóa đơn, chứng từ không có đầy đủ nội dung bắt buộc. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc hóa đơn thiếu nội dung bắt buộc được coi là hợp lệ hoặc tuân thủ quy định pháp luật. Những hóa đơn này vẫn phải đáp ứng các quy định về nội dung hóa đơn và thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy định về xử phạt vi phạm hành chính.

2. Làm rõ đối tượng sử dụng hóa đơn điện tử

Nghị định 254 làm rõ một số quy định liên quan đến việc sử dụng hóa đơn điện tử, bao gồm:

  1. doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, chứng khoán, tài sản mã hóa và dịch vụ hỗ trợ giao dịch trên sàn giao dịch các-bon được thêm vào nhóm doanh nghiệp được sử dụng hóa đơn điện tử không có mã của cơ quan thuế, với điều kiện đáp ứng các điều kiện liên quan đến hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm kế toán và lập hóa đơn, khả năng truyền dữ liệu hóa đơn điện tử đến người mua và đến cơ quan thuế, đồng thời không thuộc diện rủi ro cao về thuế;
  2. tổ chức kinh tế, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng đã đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc không có mã của cơ quan thuế theo chế độ hóa đơn điện tử chung thì không phải đăng ký riêng để sử dụng hóa đơn điện tử từ máy tính tiền;
  3. hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 01 tỷ đồng, hoặc bán tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng thì phải áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế, hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế.

3. Bổ sung các trường hợp không phải sử dụng hóa đơn điện tử

Nghị định 254 quy định một số trường hợp không phải sử dụng hóa đơn điện tử, bao gồm:

  1. hộ kinh doanh hoặc cá nhân kinh doanh bán hàng hóa hoặc dịch vụ thuộc trường hợp lập bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ theo quy định pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, trừ trường hợp người bán đã đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử;
  2. hộ kinh doanh hoặc cá nhân kinh doanh có thu nhập từ hoạt động cho thuê bất động sản hoặc từ việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ nội dung thông tin số về giải trí, trò chơi điện tử, phim số, ảnh số, nhạc số và quảng cáo số cho các tổ chức hoặc cá nhân ở nước ngoài;
  3. hộ kinh doanh hoặc cá nhân kinh doanh làm đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm hoặc đại lý bán hàng đa cấp mà doanh nghiệp xổ số, bảo hiểm hoặc bán hàng đa cấp đã thực hiện khấu trừ thuế;
  4. các khoản phí và khoản thu khác phát sinh từ hoạt động tái bảo hiểm, nhận tiền gửi, hoạt động tài chính (phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành chứng khoán sơ cấp và phát hành giấy tờ có giá), bán nợ, giao dịch ngoại tệ và sản phẩm phái sinh;
  5. góp vốn bằng tài sản của các tổ chức, cá nhân kinh doanh vào các tổ chức kinh tế;
  6. tài sản điều chuyển từ công ty mẹ đến các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc và ngược lại, giữa các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong cùng một cơ sở kinh doanh, hoặc tài sản điều chuyển khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp;
  7. máy móc, thiết bị cho mượn là tài sản cố định và công cụ, dụng cụ phục vụ gia công hàng hóa của bên cho mượn, không thu tiền và không chuyển quyền sở hữu; và
  8. hàng hóa, dịch vụ được sử dụng để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của cơ sở kinh doanh, và các khoản thu không liên quan đến việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ.

4. Quy định mới về thời điểm lập hóa đơn

Nghị định 254 bổ sung một số quy định về thời điểm lập hóa đơn. Đáng chú ý như sau:

  1. theo nguyên tắc chung, thời điểm lập hóa đơn là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa cho người mua (đối với bán hàng hóa), và thời điểm hoàn thành việc cung cấp dịch vụ (đối với cung cấp dịch vụ);
  2. trường hợp người cung cấp dịch vụ thu tiền trước hoặc trong khi cung cấp dịch vụ, thời điểm lập hóa đơn là thời điểm thu tiền. Quy định này không áp dụng đối với khoản tiền đặt cọc theo quy định của Bộ luật Dân sự để bảo đảm thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ. Khác với Nghị định 123, ngoại lệ này không còn chỉ giới hạn đối với các khoản tiền đặt cọc liên quan đến một số dịch vụ cụ thể; và
  3. trường hợp người bán không sử dụng phần mềm lập hóa đơn tự động và bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ trong giờ làm việc ban đêm theo quy định của Bộ luật Lao động, từ 22:00 đến 06:00 ngày hôm sau, hóa đơn có thể được lập chậm nhất vào ngày làm việc tiếp theo.

5. Làm rõ nội dung của hóa đơn

Nghị định 254 bổ sung và làm rõ một số yêu cầu về nội dung hóa đơn, bao gồm:

  1. yêu cầu các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh sử dụng mã số thuế cho tất cả các cửa hàng phải ghi rõ tên, mã và địa chỉ địa điểm kinh doanh trên hóa đơn, và doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu phải ghi rõ mã và địa chỉ địa điểm kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp của từng địa điểm kinh doanh;
  2. yêu cầu ghi cụm từ "Bán cho người tiêu dùng" trong trường hợp người mua là cá nhân không cung cấp tên, địa chỉ hoặc số định danh cá nhân;
  3. bổ sung các nội dung phải thể hiện trên hóa đơn đối với hoạt động bán ô tô, xe máy và làm rõ nội dung hóa đơn áp dụng đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ vận tải đường bộ trong nước; và
  4. làm rõ rằng chữ ký điện tử của nhà cung cấp nước ngoài phải tuân thủ quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

Tải bản tin về máy tại đây: Quy định mới về hóa đơn điện tử và chứng từ điện tử theo Nghị định số 254/2026/NĐ-CP và Thông tư số 91/2026/TT-BTC


Bài viết này chỉ cung cấp một bản tóm tắt về chủ đề được đề cập, mà không có bất kỳ nghĩa vụ nào do Công Ty Luật Frasers chịu trách nhiệm. 

Bản tóm tắt không nhằm mục đích cũng như không nên dựa vào nó để thay thế cho lời khuyên pháp lý.

© Bản quyền của ấn phẩm này thuộc về Công Ty Luật Frasers.