Tổng Quan Về Luật Trí Tuệ Nhân Tạo Đầu Tiên Của Việt Nam
18/12/2025 17:00

Ngày 10 tháng 12 năm 2025, Quốc hội Việt Nam chính thức thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo (Luật TTNT), sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 3 năm 2026. Luật TTNT được kỳ vọng sẽ thiết lập một khuôn khổ pháp lý mang tính đột phá cho trí tuệ nhân tạo (TTNT), nhằm tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đồng thời quản lý rủi ro, bảo vệ lợi ích quốc gia, quyền con người và chủ quyền số. Mặc dù bản Luật TTNT được thông qua chưa được công bố chính thức, trong bản tin pháp lý này, chúng tôi sẽ điểm qua các điều khoản đáng chú ý dựa trên dự thảo Luật TTNT gần nhất, là bản dự thảo đã được trình Quốc hội để thông qua.
1. Phạm vi điều chỉnh
Luật TTNT áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia vào việc nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai hoặc sử dụng hệ thống TTNT tại Việt Nam, trừ các hoạt động TTNT chỉ phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, cơ yếu.
2. Phân loại hệ thống TTNT
Luật TTNT quy định cách phân loại hệ thống TTNT dựa trên mức độ rủi ro, theo đó các hệ thống TTNT được phân loại theo ba (3) mức sau:
(i) Rủi ro cao: Hệ thống TTNT có thể gây thiệt hại đáng kể đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, an ninh quốc gia.
(ii) Rủi ro trung bình: Hệ thống TTNT có khả năng gây nhầm lẫn, tác động hoặc thao túng người sử dụng do không nhận biết được chủ thể tương tác là hệ thống TTNT hoặc nội dung do hệ thống tạo ra.
(iii) Rủi ro thấp: Hệ thống TTNT không thuộc trường hợp (i) hay (ii) nêu trên.
Nhà cung cấp có trách nhiệm tự phân loại hệ thống TTNT. Đối với các hệ thống TTNT được phân loại là rủi ro trung bình hoặc rủi ro cao, nhà cung cấp phải lập hồ sơ phân loại và thông báo kết quả phân loại cho Bộ Khoa học và Công nghệ (BKHCN) thông qua Cổng thông tin điện tử một cửa về TTNT trước khi đưa vào sử dụng. Bên triển khai được kế thừa kết quả phân loại của nhà cung cấp và có trách nhiệm bảo đảm an toàn, nguyên vẹn của hệ thống trong quá trình sử dụng. Tuy nhiên, trong trường hợp có sự sửa đổi, tích hợp hoặc thay đổi chức năng làm phát sinh rủi ro mới hoặc rủi ro cao hơn, bên triển khai phải phối hợp với nhà cung cấp để thực hiện phân loại lại hệ thống. Trường hợp không thể xác định được mức rủi ro, nhà cung cấp có thể đề nghị BKHCN hướng dẫn về mức phân loại trên cơ sở hồ sơ kỹ thuật của hệ thống.
3. Trách nhiệm minh bạch
Về nguyên tắc, nhà cung cấp và bên triển khai hệ thống TTNT phải đảm bảo tính minh bạch trong suốt quá trình cung cấp và triển khai hệ thống. Nhà cung cấp phải bảo đảm các nội dung âm thanh, hình ảnh, video do hệ thống TTNT tạo ra được đánh dấu ở định dạng máy đọc. Bên triển khai có trách nhiệm thông báo cho công chúng khi nội dung do hệ thống TTNT tạo ra hoặc chỉnh sửa có thể gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện hoặc nhân vật. Nội dung nhằm mô phỏng hoặc giả lập ngoại hình, giọng nói của người thật hoặc tái hiện các sự kiện thực tế phải được gắn nhãn rõ ràng. Hình thức thông báo, gắn nhãn cụ thể sẽ được Chính phủ quy định chi tiết.
4. Quản lý TTNT
Dựa trên phân loại rủi ro, Luật TTNT quy định các yêu cầu pháp lý tương ứng với từng mức độ rủi ro.
(i) Hệ thống TTNT có rủi ro cao
Trước khi đưa vào sử dụng, các hệ thống TTNT có rủi ro cao phải được đánh giá sự phù hợp. Đánh giá sự phù hợp theo Luật TTNT được thực hiện như sau:
- Hệ thống TTNT có rủi ro cao thuộc Danh mục phải chứng nhận sự phù hợp trước khi đưa vào sử dụng: việc đánh giá được thực hiện bởi tổ chức đánh giá sự phù hợp đã được đăng ký hoặc thừa nhận theo quy định của pháp luật.
- Hệ thống TTNT có rủi ro cao khác: nhà cung cấp tự đánh giá sự phù hợp hoặc thuê tổ chức đánh giá sự phù hợp đã được đăng ký hoặc thừa nhận theo quy định của pháp luật.
Kết quả đánh giá sự phù hợp là điều kiện để hệ thống TTNT có rủi ro cao được phép đưa vào sử dụng. Danh mục hệ thống TTNT có rủi ro cao, bao gồm danh mục hệ thống phải chứng nhận sự phù hợp trước khi đưa vào sử dụng sẽ được Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết.
Ngoài ra, nhà cung cấp và bên triển khai các hệ thống TTNT có rủi ro cao phải tuân thủ các nghĩa vụ quản lý nghiêm ngặt. Đáng lưu ý, nhà cung cấp nước ngoài có hệ thống TTNT có rủi ro cao tại Việt Nam phải có đầu mối liên hệ hợp pháp tại Việt Nam. Đối với các hệ thống thuộc diện bắt buộc chứng nhận sự phù hợp trước khi đưa vào sử dụng, thì phải có hiện diện thương mại hoặc đại diện được ủy quyền tại Việt Nam.
(ii) Hệ thống TTNT có rủi ro trung bình
Nhà cung cấp và bên triển khai hệ thống TTNT có rủi ro trung bình có trách nhiệm sau:
- Yêu cầu về bảo đảm minh bạch; và
- Trách nhiệm giải trình khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước: theo đó, nhà cung cấp phải giải trình về mục đích sử dụng, nguyên lý hoạt động ở mức mô tả chức năng, dữ liệu đầu vào chủ yếu và biện pháp quản lý rủi ro, an toàn của hệ thống; bên triển khai phải giải trình về việc vận hành, kiểm soát rủi ro, xử lý sự cố và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Ngoài ra, người sử dụng hệ thống có trách nhiệm tuân thủ quy định về thông báo và gắn nhãn hệ thống.
(iii) Hệ thống TTNT có rủi ro thấp
Các yêu cầu quản lý đối với hệ thống TTNT có rủi ro thấp tương đối đơn giản. Nhà cung cấp và bên triển khai có trách nhiệm giải trình theo yêu cầu của cơ quan nhà nước. Người sử dụng có thể khai thác và sử dụng các hệ thống TTNT có rủi ro thấp cho các mục đích hợp pháp và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động sử dụng của mình.
5. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trường hợp hệ thống TTNT có rủi ro cao được quản lý, vận hành và sử dụng đúng quy định nhưng vẫn phát sinh thiệt hại thì bên triển khai phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại. Sau khi bồi thường, bên triển khai yêu cầu nhà cung cấp, nhà phát triển hoặc các bên liên quan hoàn trả khoản tiền bồi thường nếu có thỏa thuận giữa các bên.
Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được miễn trừ trong các trường hợp sau:
(i) thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; hoặc
(ii) thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp hệ thống TTNT bị bên thứ ba xâm nhập, chiếm quyền điều khiển hoặc can thiệp trái pháp luật thì bên thứ ba phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, nếu bên triển khai hoặc nhà cung cấp có lỗi trong việc để hệ thống bị xâm nhập, chiếm quyền điều khiển hoặc can thiệp trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại cho các cá nhân bị ảnh hưởng.
6. Điều khoản chuyển tiếp
Đối với các hệ thống TTNT đã được đưa vào hoạt động trước ngày Luật TTNT có hiệu lực, nhà cung cấp và bên triển khai có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ tuân thủ theo quy định của Luật TTNT trong thời hạn sau đây:
(i) Mười tám (18) tháng kể từ ngày Luật TTNT có hiệu lực thi hành đối với hệ thống TTNT trong lĩnh vực y tế, giáo dục và tài chính; và
(ii) Mười hai (12) tháng kể từ ngày Luật TTNT có hiệu lực đối với các hệ thống TTNT không thuộc trường hợp (i) nêu trên.
Trong giai đoạn chuyển tiếp nói trên, hệ thống TTNT đã được triển khai sẽ được tiếp tục hoạt động, trừ trường hợp bị tạm dừng hoặc chấm dứt hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước khi xác định hệ thống có nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng.
Luật TTNT đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc định hình cách tiếp cận pháp lý của Việt Nam đối với việc phát triển và ứng dụng các công nghệ TTNT. Luật TTNT thể hiện rõ định hướng chính sách của Nhà nước trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đồng thời tăng cường quản trị, quản lý rủi ro và trách nhiệm giải trình. Theo đó, doanh nghiệp, nhà phát triển công nghệ và các bên liên quan được khuyến nghị theo dõi thường xuyên những sự phát triển sắp tới, đánh giá tác động của những sự thay đổi này đối với hoạt động của mình và sớm chuẩn bị các biện pháp cần thiết để bảo đảm tuân thủ khi Luật TTNT được triển khai.
Tải bản tin về máy tại đây: Cập Nhật Pháp Lý - Tổng Quan Về Luật Trí Tuệ Nhân Tạo Đầu Tiên Của Việt Nam
Bài viết này chỉ cung cấp một bản tóm tắt về chủ đề được đề cập, mà không có bất kỳ nghĩa vụ nào do Công ty Luật Frasers chịu trách nhiệm.
Bản tóm tắt không nhằm mục đích cũng như không nên dựa vào nó để thay thế cho lời khuyên pháp lý.
© Bản quyền của ấn phẩm này thuộc về Công ty Luật Frasers.